home Trang chủ   »  Tin từ cơ quan, tổ chức khác  »  Nhiều bất cập trong đầu tư, hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng

Tin tức nổi bật

Liên kết website

Đối tác

AID Asia Vi cong dong Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững VPA/FLEGT

Nhiều bất cập trong đầu tư, hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng

Cập nhật : 2015-06-30

Lượt xem : 5725


Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách bảo vệ và phát triển rừng và các chính sách đặc thù hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số vùng miền núi như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2010; Chương trình 135, Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ (Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP), Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 (KH 57) và các chính sách đặc thù khác như giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng buôn làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên. Các chính sách này đã góp phần hỗ trợ các hộ gia đình, đặc biệt là đồng bào dân tộc miền núi vùng khó khăn tăng thu nhập, thoát nghèo, từng bước ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất lâm nghiệp, góp phần vào phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng trong vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng lâm nghiệp ngày càng được cải thiện và đưa vào ứng dụng trong sản xuất góp phần nâng cao năng suất rừng trồng.Thị trường lâm sản trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến tích cực, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ liên tục tăng trưởng, nhu cầu gỗ nguyên liệu chế biến trong nước ngày càng cao,… là những yếu tố khuyến khích phát triển sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp.

  Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay hầu hết hộ gia đình và cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng dân tộc và miền núi gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao vẫn sống dựa vào rừng, một số nơi rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá để lấy đất sản xuất nông nghiệp. Cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc còn hạn chế, nguồn lực phân tán và chưa đủ mạnh để tạo nguồn thu nhập ổn định giúp người dân yên tâm bảo vệ và phát triển rừng và sống được bằng nghề rừng. Một số điểm hạn chế, bất cập chủ yếu của các chính sách hiện hành trong bảo vệ và phát triển rừng như:

  Trong khoán bảo vệ rừng: Kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng hiện nay ở mức 200.000 đồng/ha/năm và mức 300.000 đồng/ha/năm áp dụng riêng cho 63 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP (Quyết định số 2621/QĐ-TTg ngày TTg ngày 31/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số mức hỗ trợ phát triển sản xuất quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ). Mức hỗ trợ khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình là rất thấp, nếu bình quân mỗi hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng 10 ha, số tiền được hỗ trợ là 2.000.000 đồng/hộ/năm (tương ứng với khoảng 120 kg gạo), chưa đủ đáp ứng nhu cầu lương thực của một người trong gia đình, đặc biệt ở các vùng dân tộc, miền núi, điều kiện cho sản xuất, phát triển kinh tế gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra, Ngân sách Nhà nước hàng năm thường không đáp ứng đủ so với nhu cầu bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dung toàn quốc nên thực tế ở nhiều địa phương mức khoán bảo vệ rừng phải dàn trải, có nơi rút xuống chỉ từ 50.000đ-100.000đ/ha/năm, thậm chí có  nơi không có.

  Để khuyến khích hộ gia đình tham gia nhận giao rừng, khoán bảo vệ rừng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đây là quy định về chi trả của bên sử dụng dịch vụ môi trường (nhà máy thủy điện, nước sạch, du lịch sinh thái) với bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng (hộ gia đình, tổ chức), nguồn kinh phí này không thuộc ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, kinh phí được chi trả cho các hộ gia đình rất khác nhau giữa các vùng, phụ thuộc vào diện tích rừng mà hộ gia đình nhận khoán bảo vệ, phụ thuộc vào số lượng bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng. Cụ thể, tại tỉnh Điện Biên mức chi trả cao nhất là 256.000 đồng/ha/năm và mức thấp nhất là 826 đồng/ha/năm, mức chênh lệch tới 300 lần.

Giao rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng: Đối với một số diện tích rừng tự nhiên (chủ yếu là rừng sản xuất) đã giao cho hộ gia đình, cộng đồng không được hưởng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước mà chỉ được hưởng lợi phần tăng thêm của gỗ, lâm sản do rừng sinh trưởng (Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp). Tuy nhiên, diện tích rừng giao cho các hộ gia đình, cộng đồng chủ yếu là rừng phục hồi, rừng nghèo, trữ lượng gỗ rất thấp, chủ yếu là cây có giá trị thấp, hầu như chưa có gì hưởng lợi, mà phải nuôi dưỡng trong thời gian dài (tối thiểu 15-20 năm). Do vậy, mặc dù nhận rừng, nhưng các hộ gia đình hầu như không có nguồn thu nhập, dẫn đến rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá, chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp.

  Đối với diện tích rừng tự nhiên (phòng hộ và sản xuất) đã giao cho hộ gia đình để khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên, có trồng bổ sung, mức hỗ trợ hiện hành là 1.000.000 đồng/ha/6 năm (bình quân 160.000 đồng/ha/năm) theo Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 về nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015). Mức hỗ trợ này là quá thấp, không đảm bảo chi phí để cho các hộ gia đình áp dụng các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng bao gồm: phát dây leo, cây sâu bệnh, trồng bổ sung và chăm sóc cây trồng bổ sung trong các năm đầu.

  Về trồng rừng sản xuất: Về hỗ trợ trồng rừng sản xuất trên diện tích đất của hộ gia đình đã được giao hoặc cho thuê theo quy định của pháp luật, mức kinh phí hỗ trợ cho các hộ gia đình đã ưu tiên cho vùng khó khăn (xã khó khăn, đặc biệt khó khăn vùng biên giới) theo quy định tại Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg ngày 09/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015. Trong đó, mức hỗ trợ trồng rừng tối đa là 4.500.000 đồng/ha (đối với cây chu kỳ kinh doanh dài, trên 10 năm) và 3.000.000 đồng/ha (đối với cây chu kỳ kinh doanh ngắn, dưới 10 năm). Đối với các hộ gia đình thuộc 63 huyện nghèo, mức hỗ trợ từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng/ha (Quyết định số 2621/QĐ-TTg ngày 31/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ). Tuy nhiên, theo đơn giá trồng rừng hiện nay (ở khu vực khó khăn trung bình) chi phí khoảng 25.000.000 - 30.000.000 đồng/ha/07 năm (đối với cây chu kỳ kinh doanh ngắn), bao gồm: chi phí chuẩn bị hiện trường trồng rừng, giống, phân bón, nhân công, tiền chăm sóc cho 03 năm đầu, tiền bảo vệ rừng cho các năm tiếp theo đến khi khai thác. Đối với khu vực khó khăn như vùng dân tộc, miền núi (xã khu vực III) thì chi phí trồng rừng còn cao hơn rất nhiều. Do vậy, phần kinh phí còn thiếu để trồng rừng, các hộ gia đình phải đi vay, mặc dù với lãi suất ưu đãi cũng là gánh nặng cho hộ gia đình nghèo, đặc biệt đối với sản xuất lâm nghiệp có đặc thù là chu kỳ kinh doanh dài, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.

  Chính sách tín dụng trong phát triển sản xuất: Chính sách tín dụng đối với trồng rừng sản xuất hiện tại thực hiện theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ, theo đó hộ gia đình được vay tối đa tới 50.000.000 đồng để sản xuất lâm nghiệp, tuy nhiên lãi suất cho vay đươc thực hiện theo cơ chế tín dụng thương mại hiện hành. Đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo thì Nhà nước có các chính sách riêng cho từng đối tượng, theo đó thời hạn cho vay theo thỏa thuận và phù hợp với khả năng trả nợ của hộ gia đình, mức lãi suất hiện nay là 7,2%/năm đối với người nghèo. Đối với hộ nghèo thuộc 63 huyện nghèo (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP), Nhà nước hỗ trợ lãi suất vốn vay ưu đãi bằng 50% lãi suất cho vay hộ nghèo để mua giống gia súc, gia cầm, thủy sản; mức vay được hỗ trợ tối đa là 10.000.000 đồng/hộ, thời gian hỗ trợ lãi suất là 03 năm. Hoặc đối với các hộ gia đình di dân tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện, mức cho vay tối đa lên tới 50.000.000 đồng/hộ, hỗ trợ lãi suất bằng 50% lãi suất hộ nghèo, thời gian hỗ trợ là 03 năm (Quyết định số 64/2014/QĐ-TTg ngày 18/11/2014). Như vậy, địa bàn các xã thuộc khu vực khó khăn ngoài số tiền được Nhà nước hỗ trợ khi trồng rừng sản xuất (tối đa 4.500.000 đồng/ha), phần còn thiếu (khoảng 20.000.000 đồng/ha) hộ gia đình phải vay từ ngân hàng tối thiểu với lãi suất là 7,2%/năm (hộ nghèo), đây là số tiền lãi khá lớn phải trả đối với hộ gia đình khi có sản phẩm thu hoạch. Đối với hộ gia đình thuộc 63 huyện nghèo khi trồng rừng sản xuất vẫn phải đi vay tới 15.000.000 triệu đồng/ha hoặc để phát triển chăn nuôi, cả số tiền hỗ trợ của Nhà nước (tối đa 10.000.000 đồng/hộ) và tiền vay từ ngân hàng (tối đa 10.000.000 đồng/hộ) chỉ đủ để mua 01 con trâu, bò nuôi sinh sản. Như vậy, tối thiểu là 07 năm, hộ gia đình mới trả được nợ vay ngân hàng (đối với trồng rừng) hoặc 05 năm đối với chăn nuôi gia súc. Do kinh doanh gỗ có chu kỳ dài, chi phí đầu tư lớn hơn, trong khi việc vay vốn sản xuất của các hộ gia đình rất khó khăn; kinh phí nuôi dưỡng rừng chủ yếu do các chủ rừng tự huy động, do đó chưa có điều kiện phát triển kinh doanh gỗ lớn.

  Vay vốn từ các ngân hàng thương mại thường có lãi suất cao, điều kiện vay, thủ tục vay hết sức khó khăn (phải có tài sản thế chấp), thời gian cho vay ngắn, nên các doanh nghiệp và hộ gia đình khó tiếp cận được nguồn vốn. Trồng rừng có chu kỳ kinh doanh dài và rủi ro cao nên các Ngân hàng thường không muốn cho vay trồng rừng; các hộ gia đình, cá nhân càng khó có cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng để trồng rừng. Nếu được vay vốn, Ngân hàng cũng chỉ cho vay tối đa khoảng 50% giá trị đầu tư, với lãi suất thương mại cao nên sau khi trừ chi phí, giá trị thu được  thường rất thấp.

  Ngoài ra, quỹ đất lâm nghiệp tập trung quy mô lớn để trồng mới rừng sản xuất không còn, những nơi có điều kiện đất tốt thì đã trồng rừng; diện tích chưa trồng phần lớn là ở vùng cao, xa, điều kiện lập địa khó khăn. Quy mô diện tích đất lâm nghiệp của mỗi hộ gia đình nhỏ lẻ (mỗi hộ gia đình chỉ 1-2ha), số hộ có diện tích đất lâm nghiệp trên 5ha rất ít. Các hộ gia đình vùng miền núi đời sống khó khăn, thiếu vốn sản xuất nên trồng rừng quảng canh, chu kỳ ngắn để nhanh cho sản phẩm, thu nhập.Công tác giao đất lâm nghiệp cho các chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân ở một số địa phương còn chậm. Nhiều chủ rừng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) để vay vốn, ổn định sản xuất.

  Tuy trồng rừng gỗ lớn cho giá trị kinh tế cao hơn, song do nhu cầu nguyên liệu giấy, băm dăm, trụ mỏ tăng mạnh nên chính quyền một số tỉnh chỉ định hướng kinh doanh rừng cung cấp nguyên liệu gỗ nhỏ. Do đó việc trồng rừng gỗ lớn sẽ khó phát triển nếu không có chính sách hỗ trợ của nhà nước.Thị trường giá cả thiếu ổn định, chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, chính sách quản lý thu mua còn nhiều bất cập là yếu tố hạn chế tới việc khuyến khích người dân và các nhà đầu tư trong việc liên doanh, liên kết đầu tư trồng rừng kinh doanh gỗ lớn. Hạ tầng lâm nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, đặc biệt là hệ thống đường lâm nghiệp dẫn đến khó khăn trong công tác đầu tư phát triển rừng gỗ lớn (từ các khâu trồng, tỉa thưa, khai thác, vận chuyển chi phí rất cao).

  Công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp đã có nhiều chuyển biến, song ở nhiều nơi chưa quản lý, giám sát được chất lượng giống, đặc biệt là các cơ sở sản xuất giống tư nhân, quy mô nhỏ (hộ gia đình ). Các giống mới được Bộ công nhận nhiều nhưng mới chỉ dừng lại ở mô hình khảo nghiệm của đề tài mà chưa được nhân giống để chuyển giao, cung cấp cho sản xuất đại trà. Giống và nguồn giống chưa cụ thể cho trồng rừng gỗ lớn và trồng rừng gỗ nhỏ; chưa cụ thể cho từng vùng, từng điều kiện lập địa. Trồng rừng chủ yếu vẫn ở mức thâm canh thấp, đào hố nhỏ, không bón phân, chăm sóc ít lần nên rừng sinh trưởng chậm, năng suất thấp. Chưa có nhiều mô hình rừng trồng kinh doanh gỗ lớn điển hình tại các vùng làm cơ sở tham quan, tuyên truyền, học tập.

  Trồng rừng gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài nên thường gặp rủi ro như cháy rừng, thiên tai gió bão, trong khi chúng ta chưa có chính sách bảo hiểm đối với rừng trồng.  Thị trường tiêu thụ và giá cả thiếu ổn định. Sức ép dân số và phát triển kinh tế, nhu cầu về đất ở, đất sản xuất, đất xây dựng, khai thác khoáng sản,… ngày càng lớn gây khó khăn cho công tác bảo vệ  rừng. Giá trịlâm sản từ rừng còn hạn chế, trong khi đó các giá trị về sinh thái và dịch vụ môi trường rừng lại chưa được đánh giá đúng mức,chưa được nghiên cứu để áp dụng.

  (Kỳ 2: Những đề xuất cho chính sách trồng rừng, phát triển rừng)

Hồng Minh

Nguồn: http://www.tapchitainguyenvamoitruong.vn/383/TNMT/10245/Nhieu-bat-cap-trong-dau-tu-ho-tro-bao-ve-va-phat-trien-rung.html

Tin khác